Chiếc xe buýt thần kỳ

0
92

Chúng ta sẽ thấy sự thú vị trong câu chuyện kinh doanh ngành xe buýt qua trường hợp của NABI – một công ty xe buýt của Hungary trong cuốn sách Chiến lược đại dương xanh của NXB Lao động – Xã hội mà MoneyGlobal xin phép được trích lược để quý vị theo dõi câu chuyện kinh doanh thú vị này.

 NABI đã áp dụng đường lối theo định hướng theo những sản phẩm và dịch vụ bổ sung. Ngành vận chuyển bằng xe buýt có thể mang lại doanh số 1 tỷ $. Khách hàng chính của ngành là những nhân tổ chức vận tải công cộng (PPT), những công ty vận tải thuộc sở hữu của thành phố, vận chuyển bằng xe buýt trên những tuyến đường cố định trong những thành phố hoặc tỉnh lớn.

Souce: showbus.com

Theo quy luật cạnh tranh trong ngành, các công ty sẽ đưa ra mức giá thấp nhất để cạnh tranh. Xe buýt của các công ty trong thị trường thường có thiết kế lạc hậu, thời gian giao hàng chậm, chất lượng thấp và các chọn lực về giá bị hạn chế do thói quen tiết kiệm của ngành.

Tại sao những công ty kinh doanh dịch vụ vận chuyển bằng xe buýt chỉ quan tâm đến giá mua ban đầu của xe buýt, trong khi thời gian lưu thông trung bình của xe là 12 năm? NABI đã nhìn thấy những yếu tố không được để ý đến trong toàn ngành.

NABI nhận thấy rằng, yếu tố chi phí cao nhất không phải là giá xe của bản thân chiếc xe buýt, mà là chi phí sau khi mua xe, như; chi phí sửa chữa sau tai nạn, xăng xe, thay thế phụ tùng,… mới là những nhân tố cao nhất của các công ty trực thuộc chính quyền. Chính quyền thành phố cũng đang phải đương đầu với những yêu cầu về không khí sạch, giảm bớt đầu tư cho các phương tiện vận tải công cộng gây ô nhiễm môi trường. Như vậy, ngành vận tải xe buýt gần như không nhận thấy chi phí trên toàn bộ vòng đời sử dụng.

NABI nhận ra rằng, ngành sản xuất xe buýt không phải là ngành cạnh tranh về giá hàng hóa như các công ty khác trong ngành họ vẫn thường nghĩ mỗi khi tập trung vào việc bán xe với giá thấp nhất có thể.

NABI đã thiết kế một chiếc xe buýt không giống với bất kỳ chiếc xe buýt nào. Nếu như buýt thông thường được làm bằng thép, rất nặng, dễ gỉ-sét và khó sửa chữa sau tai nạn. NABI đã sử dụng thủy tinh sợi để sản xuất xe buýt. Thân xe bằng thủy tinh sợi làm giảm đáng kể chi phí bảo dưỡng vì không bị gỉ-sét, việc sửa chữa cũng nhanh hơn và dễ dàng hơn. Vật liệu thủy tinh sợi có trọng lượng nhẹ hơn 30-35% so với thép giúp giảm nhiên liệu tiêu thụ và ô nhiễm môi trường. Trọng lượng xe cũng cho phép NABI sử dụng động cơ công suất thấp và ít trục xe hơn, giảm chi phí sản xuất và không gian xe rộng rãi hơn.

Như vậy, với cách sản xuất này, NABI đã loại bỏ hoặc giảm chi phí liên quan đến việc mài mòn, bảo dưỡng và tiêu thụ nhiên liệu.

NABI đã bán giá xe ban đầu cao hơn so với mức giá trung bình, tuy nhiên chi phí để duy trì hoạt động trong toàn bộ vòng đời của xe lại thấp hơn rất nhiều, có mức độ thân thiện với môi trường cao hơn trong ngành. Việc bán xe với mức giá cao hơn giúp NABI tạo ra những yếu tố khác biệt chưa từng có trong ngành: thiết kế mẫu mã đẹp hơn thuận tiện cho khách, sàn xe thấp hơn, dễ dàng bước lên xe, nhiều ghế ngồi hơn để giảm bớt số người phải đứng. Những yếu tố đó đã làm tăng nhu cầu đi lại xe buýt, làm tăng doanh thu cho chính quyền thành phố.

NABI đã thay đổi cách nhìn về kinh doanh vận tải bằng xe buýt đối với chính quyền thành phố về doanh thu và chi phí liên quan đến đến vận tải bằng xe buýt. NABI đã tạo ra giá trị đặc biệt cho người mua và người sử dụng cuối cùng. Nhiều thành phố và nhiều người dân rất thích những mẫu xe buýt mới NABI sản xuất, kể từ đó lượng lao động nộp làm tài xế cũng tăng 30%. NABI đã chiếm được 20% thị phần tại Mỹ khi bắt đầu hoạt động từ năm 1993, đứng số 1 về thị phần và tốc độ tăng trưởng. mức độ sinh lời. Giá trị đơn hàng của họ đã lên đến 1 tỷ $ và tháng 12/2002 NABI được tập đoàn Economic Intelligence Unit gọi là một trong 30 công ty thành công nhất trên thế giới.

MoneyGlobal trích lược theo Chiến lược đại dương xanh của NXB Lao động – Xã hội